Pages

Được tạo bởi Blogger.

“Thái độ” của biển khơi trong tác phẩm của Pushkin

          “Thái độ” của biển khơi đối với mỗi lần ra biển của ông lão theo yêu cầu của bà vợ được thể hiện theo lối tăng cấp vốn có sẵn trong câu chuyện dân gian. Yếu tố này vẫn được Pushkin giữ lại trong tác phẩm của mình, chỉ chuốt gọn hơn về câu chữ, nhấn mạnh màu sắc và những biến động trên mặt nước biển khơi.           Tương ứng với năm điều ước tăng dần của bà lão và năm lần ra biển của ông lão: “Biển khơi sóng gợn lăn tăn” “Biển xanh nhuốm đục”  “Biển xanh nổi sóng không yên”  “Biển xanh đen sậm lại” “Giông tố đen tối sầm mặt biển:/Sóng nối đuôi nhau giận dữ dâng trào/ Cứ thế ầm ào, thét gầm, gào rống”. Yếu tố dân gian này được Pushkin sử dụng không chi để thể hiện phản ứng của tự nhiên, vũ trụ đối với lòng tham của bà lão, mà còn đổi với cả thái đô thụ động của ông lão. Một lần nữa, như Pushkin từng viết về “nhân dân thanh bình cử gặm cỏ đi thôi” trong bài thơ Người gieo giống tự do trên đồng vẳng (1823), nhà thơ tỉnh táo nhìn thẳng vào bản tính thụ động cam chịu của nhân dân như tiền đề cho sự áp bức, mất tự do. Đáp lại những đòi hỏi không ngừng của bà lão, ông lão về cơ bản chỉ biết phàn nàn, hoặc phản ứng bằng những câu nửa mỉa mai, nửa van xin (phản ứng mãnh liệt nhất của ông là “kinh sợ” khi nghe bà vợ tuyên bố muốn làm nữ hoàng, ông “rền rĩ”: “Mụ làm sao, ăn phải bả gì chăng?


 Pushkin


          Đến đi đứng nói năng còn chẳng biết/ Làm trò cười cho cả quốc gia ư?”), thế rồi cuối cùng ông lão cũng vẫn “không một lời dám trái”, câm lặng, “lóc cóc”, “lủi thủi” đi ra biển than vãn với cá vàng về “mụ già quẫn trí”, “nổi loạn”, “đáng nguyền rủa”, “chẳng để già này được yên thân”, và cầu xin cá giúp đỡ. Ông lão đánh cá trong tác phẩm không phải không có ước mơ (“vùng vẫy ngoài khơi thỏa chí”), nhưng ước muốn tự do của ông không thể trở thành hiện thực: “chẳng cần được đáp đền chi cả”, nhưng ông vẫn phải nghe lời sai khiến của bà lão để đòi được đáp đền, muốn được “yên thân”, ông lại phải làm cho con cá chẳng được yên. Cái tâm “chẳng cần được đáp đền chi cả” của ông lão lại là bạn đồng hành với sự cam chịu, khuất phục. Tác phẩm của Pushkin nhức nhối nỗi đau cả về lòng tốt thụ động của con người trong thời đại của ông.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: pushkin, bài thơ tôi yêu em của nhà thơ puskin

Tác phẩm của Pushkin thể hiện nỗi đau thời đại

      Tác phẩm của Pushkin thể hiện nỗi đau thời đại của nhà thơ khi mối quan hệ thống trị – bị trị trở nên phổ biến, nó chi phối và tha hóa cả một trong những mối quan hệ thiêng liêng nhất của con người – quan hệ vợ chồng.        Đối với bà lão biểu hiện đầu tiên của tự do là có những gì mình muốn và quyền lực đối với người khác. Quyền lực đi đôi với bạo lực. Khi làm “nhất phẩm phu nhân” có những “kẻ hầu người hạ chuyên cần”, mụ “đánh họ, túm đầu, kéo tóc”. Khi làm nữ hoàng, mụ có xung quanh cả một “bầy lính gác giáo mác vác vai hung dữ” để thể hiện quyền lực. Chính ý thức về mối quan hệ thống trị – bị trị ấy trực tiếp dẫn đến đòi hỏi cuối cùng của bà lão là được thống trị cả biển cả và cá vàng – phép lạ: “Ta muốn làm nữ chúa của biến khơi/ Để được sống ngoài đại dương – biển cả. Để cá vàng phục vụ cho ta/ Và thành kẻ đầu sai sẵn bên ta mọi lúc”.


Pushkin


         Trong xã hội ngự trị của vật chất và quyền lực, vấn đề tự do được đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết. vấn đề ấy ở nước Nga nông nô chuyên chế trong thời đại của Pushkin không tách biệt khỏi mối quan hệ “nông dân – quý tộc”. Khi tuyên bố muốn làm “nữ hoàng”, bị ông lão phản đối, bà lão “tát vào mặt chồng sỉ vả”: “Thằng nhà quê kia, dám cãi lại ta ư. Cãi lại ta, một quý bà quý tộc?”. Trục quan hệ “nông dân – quý tộc” thực chất được đồng nhất với quan hệ “nổ lệ – tự do”. Cách định danh “nữ hoàng tự do” qua lời bà vợ toát lên ý vị mỉa mai chua xót: bà lão tự khinh bỉ chính mình như “một mụ nhà quê mạt hạng”, vậy nên nhất nhất phải đòi làm “nhất phẩm phu nhân”, rồi “nữ hoàng”, “Long vương”. Đó là sự thể hiện của quan niệm lệch lạc về tự do xuất phát từ tâm lí của những “con người nhỏ bé”. Quan niệm ấy dẫn đến điều đau xót hơn nữa lả chính cả “nhân dân” cũng nương theo sức mạnh cường quyền: khi thấy ông lão bị “nữ hoàng” không thèm để ý, “chỉ liếc nhìn qua, rồi lệnh đuổi đi”, đám quan lại, quý tộc “túm cổ đẩy chúi đầu” ông ở cửa, thị vệ chạy lại “mác rìu chút nữa chém rơi đầu”, còn “dân chúng” không những không thương xót ông mà còn cất lời mỉa mai, “giễu cợt”, trách ông lão: “chớ thấy sang bắt quàng làm họ”



Những đòi hỏi của bà lão trong truyện của Pushkin

      Đòi hỏi đầu tiên của bà lão trong tác phẩm của Pushkin là “cái máng mới” thay cho cái cũ “đã sứt vờ hết cả”. Đây là sáng tạo thâm thúy của Pushkin: hình ảnh “cái máng sứt vỡ” sẽ được láy lại ở cuối tác phẩm ứng với câu thành ngữ Nga: “ngồi lại với cái máng sứt vỡ” hay “về lại với cái máng sứt vỡ”, có nghĩa là “tay trắng lại hoàn trắng tay”. Chi tiết “nhà gianh” trong đòi hỏi thứ hai được Pushkin định danh rõ hơn là “nhà izba” đặc trưng cho người slave. Chi tiết đòi “lâu đài” bị lược bỏ, đồng thời chi tiết đòi làm “nữ vương” được Pushkin thay bàng đòi hỏi thứ ba của bà lão – đòi làm “đức bà quý tộc rường cột (quốc gia)”3 (nhất phẩm phu nhân) nghiễm nhiên đã có “lầu cao”, phục trang sang trọng từ “đầu” đến “chân” và có “kẻ hầu người hạ chuyên cần”. Đòi hỏi thứ tư của bà lão, ước muốn làm “nữ hoàng”, được định thêm là “nữ hoàng tự do” sống trong “cung điện nguy nga”. Truyện của Pushkin bỏ đi chi tiết bà lão đòi làm “giáo hoàng” là chi tiết mang đậm màu sắc tôn giáo Tây Âu. Còn đòi hỏi cuối cùng, ước muốn làm trị “Chúa trời” trong câu chuyện dân gian được thay bằng ước muốn làm “nữ chúa biển khơi” (Long vương) để cá vàng “thành kẻ đầu sai” sẵn ta/ sàng “phục vụ”.

 Pushkin


         Quãng cách thời gian giữa những đòi hỏi của bà lão cũng được dí Pushkin thay đổi. Những ước muốn đầu tiên của bà lão (“cái máng”, “nhà izba”, “nhất phẩm phu nhân”) được đưa ra liên tiếp đòi hỏi phải thực hiện “ngay lập tức”, nhưng từ ước muốn trở thành “nữ hoàng” trở đi thì thời gian giãn ra thành quãng cách “một, đôi tuần”. Qua giai đoạn “bột phát” với những ước muốn mới chỉ liên quan đến vật chât và quyền lực lớn những chưa phải là tối thượng, bà lão cần phải có thời gian để suy ngẫm trước những đòi hỏi lớn lao hơn.
         Những đòi hỏi của bà lão trong truyện của Pushkin tăng tiến từ ước muốn vật chất tầm thường đến nhu cầu quyền lực tối thượng thể hiện khuynh hướng vật chất hóa khát vọng phổ biến trong thời đại của Pushkin. Thái độ của bà lão với ông lão hầu như không được soi chiếu từ góc độ vợ chồng: bà vợ ngay từ đầu đã trịch thượng “chửi mắng” ông lão là “đồ ngu”, là “thằng nhà quê” (mujik), tạm thỏa mãn ý nguyện thì “bắt xuống quét dọn chuồng ngựa”, tức giận thì “nổi trận lôi đình tát vào mặt ông lão”, hoặc thờ ơ “chỉ liếc nhìn qua, rồi lệnh đuổi đi”, hoặc sai khiến và đe dọa xâm phạm tự do “nếu không đi ta sẽ cho người lôi đi”. Thực chất, mối quan hệ giữa ông lão và bà lão là mối quan hệ giữa kẻ thống trị và người bị trị.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn học nga, pushkin

Có cá biết nói tiếng người

         Trong câu chuyện dân gian, người đánh cá câu mãi mới được “một con cá bơn to” tự xưng là “hoàng tử bị phù phép”, trong tác phẩm của Pushkin lần thứ ba người đánh cá quăng chài thì được “một con cá nhỏ – không phải cá thường, mà là một con cá vàng”.         Việc con cá “biết nói tiếng người” làm cho người đánh cá trong cả truyện dân gian lẫn truyện của Pushkin đều kinh ngạc. Song trong truyện dân gian, cá không nói gì về việc đền ơn, mà khi xin tha chỉ nêu lí do “thịt tôi ăn chẳng ngon lành gì”, người đánh cá thà cá ra cũng chỉ vì lí do giản dị: “cá biết nói thì ta sẵn lòng thả cho bơi đi ngay”. Trong truyện của Pushkin, cá hứa sẽ “đáp đền hậu hĩnh” khi cầu xin ông lão, nhưng ông lão thả cá đi mà không cần đến lời hứa hẹn ấy: “Cá vàng ơi, trời phù hộ cho ngươi/Ta ì chẳng cần ngươi đáp đền chi cả/ Ngươi cứ về lại biển xanh,/ vùng vẫy ngoài khơi thỏa chí”. Không nhìn nhận quyền năng của con cá từ góc độ “lợi ích cho mình”, mà đặt mình vào hoàn cảnh của cả hiện đang bị bắt, mất tự do, phải tự chuộc mình, ông lão thả cho cá vàng đi và như gửi gắm ước mơ của mình vào lời cầu chúc “vùng vẫy ngoài khơi thỏa chí”. Chủ đề người nông dân và khát vọng tự do trong tác phẩm của Pushkin được triển khai chính từ lời cầu chúc ấy.

Pushkin



       Trong chuyện dân gian, đòi hỏi của bà lão tăng dần từ nhu cầu có một “nếp nhà gianh” đến “lâu đài to xây bằng đá”, rồi làm “nữ vương”, “nữ hoàng” (der Kaiser), “giáo hoàng” (der Papst) và cuối cùng là làm “Chúa trời” những mong “sai khiến được Mặt Trời, mặt trăng mọc”. Từ lúc có được “nhà gianh” cho đến khi đòi cỏ “lâu đài” là “mươi, mười lăm ngày”, còn sau đó hoặc ngay lập tức, hoặc cứ sau một đêm tỉnh dậy đòi hỏi lại tiếp tục tăng tiến. Song ngay cả khi làm đến “giáo hoàng” hai vợ chồng vẫn “cùng nhau đi ngủ”, dù bà vợ có dằn vặt chồng thì cũng vẫn chỉ như một người vợ “làm mình làm mẩy”: nghĩa là cũng chỉ đến buông lời “có đi hay không thì bảo?” hoặc “ngồi im như khúc gỗ, chẳng đáp”, hay “nhìn chồng bàng con mắt dữ tợn”. Mối quan hệ gia đình ở đây chưa đến nỗi bị phá hủy bởi lòng tham của bà lão.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: nhà thơ puskin, tôi yêu em của puskin